Nửa còn lại của 14 chính tinh nằm ở Thiên Phủ tinh hệ. Đặt xong nhóm này là ta có đủ 14 sao chính — và xử lý được những cung “trống” không chính tinh.
Thiên Phủ là “sao vua” của nhóm thứ hai, luôn nằm đối xứng với Tử Vi qua trục Dần – Thân. Hình dung một đường thẳng nối cung Dần và cung Thân; Tử Vi ở bên nào thì Thiên Phủ ở vị trí phản chiếu qua đường đó. Cụ thể:
| Tử Vi ở | Thiên Phủ ở |
|---|---|
| Dần | Dần (cùng cung) |
| Thân | Thân (cùng cung) |
| Mão | Sửu |
| Thìn | Tý |
| Tỵ | Hợi |
| Ngọ | Tuất |
| Mùi | Dậu |
Bảng đọc hai chiều (Tử Vi ở Sửu thì Thiên Phủ ở Mão, v.v.). Khi Tử Vi rơi đúng trục — ở Dần hoặc Thân — thì Tử Vi và Thiên Phủ chung một cung.
Trong khi Tử Vi tinh hệ trải theo chiều nghịch, thì Thiên Phủ tinh hệ trải theo chiều thuận (theo chiều kim đồng hồ) từ Thiên Phủ:
| Sao | Vị trí (đếm thuận từ Thiên Phủ) |
|---|---|
| Thiên Phủ | gốc (0) |
| Thái Âm | thuận 1 cung |
| Tham Lang | thuận 2 cung |
| Cự Môn | thuận 3 cung |
| Thiên Tướng | thuận 4 cung |
| Thiên Lương | thuận 5 cung |
| Thất Sát | thuận 6 cung |
| Phá Quân | thuận 10 cung |
Nhớ mẹo: 6 sao đầu liền mạch (1–2–3–4–5–6), rồi cách 3 cung trống mới tới Phá Quân (10). Đó cũng là lý do Thất Sát và Phá Quân luôn cách nhau đúng thế tam hợp — bộ Sát – Phá – Tham mà bạn đã gặp ở nhập môn.
Ghép Tử Vi tinh hệ (Bài 2) với Thiên Phủ tinh hệ, ta được bức tranh chính tinh hoàn chỉnh:
Đếm lại đủ 14: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh (6 sao Tử Vi hệ) + Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân (8 sao Thiên Phủ hệ). Hai cung Tỵ và Thân không có chính tinh nào.
Cung không có chính tinh gọi là vô chính diệu (VCD). Cung VCD không “trống rỗng”: ta mượn hai chính tinh của cung xung chiếu (cung đối diện, cách 6 ô) để luận, gọi là “mượn sao”.